Tình hình thị trường trái phiếu tháng 12/2021

13/01/2022

Trong tháng 12, KBNN tổ chức 21 đợt đấu thầu TPCP với tổng giá trị gọi thầu (GTGT) đạt 38,750 tỷ đồng, tỷ lệ trúng thầu đạt 78%.

Trong tháng 12, KBNN tổ chức 21 đợt đấu thầu TPCP với tổng GTGT đạt 38,750 tỷ đồng, tổng giá trị đặt thầu là 91,849 tỷ đồng, trong đó giá trị trúng thầu đạt 30,220 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 78%. Trong đó, 2 kỳ hạn có khối lượng gọi thầu cao nhất là kỳ hạn 15 năm và kỳ hạn 20 năm (lần lượt là 15,500 và 7,750 tỷ đồng), tỷ lệ trúng thầu lần lượt đạt 84.3% (kỳ hạn 15 năm) và 74.3% (kỳ hạn 20 năm). Trái phiếu kỳ hạn 5 năm và 7 năm không được gọi thầu thành công trong tháng. Lãi suất trúng thầu trung bình trong tháng ở hầu hết các kỳ hạn đều giảm so với tháng trước trừ kỳ hạn 20 năm. 

Trong tháng 12, KBNN đã điều chỉnh kế hoạch phát hành TPCP trong Q4/2021 xuống 86,000 tỷ đồng từ mức 135,000 tỷ đồng trước đó, bao gồm các kỳ hạn 5 năm (1,500 tỷ đồng), 7 năm (500 tỷ đồng), 10 năm (28,000 tỷ đồng), 15 năm (31,000 tỷ đồng), 20 năm (14,000 tỷ đồng) và 30 năm (11,000 tỷ đồng). Tính đến hết tháng 12, KBNN đã phát hành tổng cộng 80,499 tỷ đồng TPCP trong Quý, tương ứng 94% Kế hoạch Quý 4. Tính từ đầu năm đến hết tháng 12/2021, kết quả phát hành TPCP đạt 318,213 tỷ đồng, tương đương 98% kế hoạch cả năm sau điều chỉnh. Trong tháng 1/2022, sẽ có khoảng 7,734 tỷ đồng trái phiếu đến hạn, khoảng 15% giá trị trái phiếu sẽ đáo hạn cả năm.

Trong tháng 12, Ngân hàng Phát Triển Việt Nam thực hiện 9 đợt đấu thầu TPCPBL, tổng giá trị gọi thầu là 11,000 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ trúng thầu đạt 77.3%.

Trong tháng 12, Ngân hàng Phát Triển Việt Nam đã tiến hành gọi thầu 11,000 tỷ đồng TPCPBL qua 9 phiên đấu thầu, tỷ lệ đặt thầu/gọi thầu đạt 144.1%. Trong đó, khối lượng trúng thầu đạt 8,500 tỷ đồng (tương đương tỷ lệ trúng thầu 77.3%) ở 3 kỳ hạn 5 năm (1,000 tỷ đồng), 7 năm (700 tỷ đồng) và 10 năm (6,800 tỷ đồng). Tỷ lệ trúng thầu kỳ hạn 5 năm là 50%, 7 năm là 35% và 10 năm 97%. Lãi suất trúng thầu ở 3 kỳ hạn 5 năm, 7 năm và 10 năm lần lượt là 1.12%, 1.5% và 2.39%, cao hơn 28 điểm, 40 điểm và 31 điểm so với LSTT TPCP cùng kỳ hạn.

Giá trị giao dịch thông thường (Outright) và giao dịch mua bán lại (Repo) lần lượt đạt 164,718 tỷ đồng (giảm 9.4% so với tháng trước) và 123,011 tỷ đồng (tăng 23% so với tháng trước).

Trên thị trường thứ cấp, giá trị giao dịch Outright và Repo trung bình ngày lần lượt đạt mức 7,162 tỷ đồng/ngày (giảm 13.3% so với tháng trước) và 5,348 tỷ đồng/ngày (tăng 17.6% so với tháng trước). So với cùng kỳ năm trước, KLGD Outright tháng 12 giảm 22.9% và KLGD Repo tăng 12.9%. Kỳ hạn 10 năm và 15 năm là những kỳ hạn được giao dịch nhiều nhất. 

Trong tháng 12/2021, nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng tổng cộng 605 tỷ đồng, như vậy, trong năm 2021 nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng 10,866 tỷ đồng.

So với tháng trước, lợi suất giao dịch TPCP (theo phòng chào giá VBMA) tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn.

Lợi suất giao dịch TPCP tăng nhẹ 1-7 điểm ở các kỳ hạn từ 1 năm đến 30 năm so với trung bình tháng trước, riêng lãi suất kỳ hạn 20 năm giảm 2 điểm. So với mặt bằng lợi suất năm ngoái, lợi suất giao dịch các kỳ hạn từ 5 năm đến 30 năm hiện tại thấp hơn từ 15 - 28 đcb, trong khi lợi suất các kỳ hạn từ 1-3 năm cao hơn từ 29-35 đcb. Trong tháng vừa qua, đường cong lãi suất không có nhiều biến động. Trong tháng 12, TPCP kỳ hạn 5 năm và 10 năm được giao dịch nhiều nhất với khối lượng giao dịch lần lượt là 3,750 tỷ đồng (chiếm 64%) và 900 tỷ đồng (chiếm 15%).

Lợi suất TPCP Việt Nam đang ở mức tương đối thấp trong khu vực. Khoảng cách giữa lợi suất giữa Việt Nam và Mỹ từ đầu tháng 12 tới nay có xu hướng thu hẹp khoảng 2 và 13 điểm ở kỳ hạn 1 và 3 năm, thu hẹp 8-12 điểm ở các kỳ hạn từ 10-30 năm trong khi nới rộng 2-5 điểm ở các kỳ hạn từ 5-7 năm. 

Trong năm 2021 có tổng cộng 964 đợt phát hành TPDN trong nước với tổng giá trị đạt 595 nghìn tỷ đồng, trong đó có 937 đợt phát hành riêng lẻ và 23 đợt phát hành ra công chúng, 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế tổng giá trị 1.425 tỷ USD.

Trong năm 2021, có tổng cộng 964 đợt phát hành TPDN trong nước, trong đó có 937 đợt phát hành riêng lẻ với tổng giá trị khoảng 570 nghìn tỷ đồng (chiếm 95.8% tổng GTPH), 23 đợt phát hành ra công chúng giá trị 26.34 nghìn tỷ (chiếm 4.6% tổng GTPH) và 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế tổng giá trị 1.425 tỷ USD.

Trong năm 2021, nhóm ngân hàng thương mại hiện dẫn đầu về giá trị phát hành với tổng khối lượng phát hành 223.01 nghìn tỷ đồng, có 55.3 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 (chiếm 25%), 73% trái phiếu phát hành kỳ hạn ngắn 2-4 năm. Một số ngân hàng có khối lượng phát hành đáng chú ý trong năm như NH TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (17,030 tỷ đồng), NH TMCP Sài Gòn- Hà Nội (13,350 tỷ đồng). Trong nhóm ngân hàng, tháng 12 là thời điểm phát hành nhiều nhất với tổng giá trị 46,926 tỷ đồng (chiếm trên 1/5 tổng KL phát hành của cả năm 2021).

Nhóm bất động sản đứng ở vị trí thứ 2 với tổng giá trị phát hành đạt 214.44 nghìn tỷ đồng, chiếm 36%. Trong đó có khoảng có khoảng 29% giá trị trái phiếu phát hành không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm bằng cổ phiếu. Lãi suất phát hành dao động trong khoảng 8%-13%/năm, bên cạnh đó có một vài doanh nghiệp có mức lãi suất phát hành chỉ ở mức khoảng 5%-6%/năm. Kỳ hạn 1-3 năm chiếm phần lớn giá trị phát hành trong năm với 142,389 tỷ đồng, chiếm 67.33%.

Trong năm 2021, có 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế gồm: Tập đoàn Vingroup (500 triệu USD), trái phiếu xanh của Công ty Cổ phần Bất động sản BIM (200 triệu USD) và trái phiếu chuyển đổi của Novaland (300 triệu USD), trái phiếu bền vững của Vinpearl (425 triệu USD).